GIÁO DÂN trong DÂN THIÊN CHÚA

Thứ tư - 16/11/2016 02:52 668 0

GIÁO DÂN trong DÂN THIÊN CHÚA

GIÁO DÂN trong DÂN THIÊN CHÚA
Theo tôi, nên thay tiếng Giáo dân bằng Giáo hữu (anh em trong tôn giáo) hay Tín hữu (anh em trong đức tin).

HOÀNH SƠN

 

Địa vị Giáo dân trước Vatican II

Vào thời Cựu Ước, hàng thầy tế được thánh hiến để dành riêng cho tế sự. Trong đền thờ Giêrusalem, Nơi Cực thánh (le Saint des saints) ở phía trên cùng, chỉ một mình Thượng tế được vô trong ngày đại lễ Xá tội (Expiation) (Levi, 16.21vt.). Phía trước là Nơi Thánh, cũng chỉ hàng thày tế với các Lêvi trợ tế được vô thôi. Phía dưới mới được dành cho giáo dân, được gọi là khu Israen (1). Sự phân chia không gian như thế nói lên sự cách ly giữa cái Thiêng (Sacred) với cái Tục (Profane), người thánh thiêng với người phàm tục, nơi thánh thiêng với nơi phàm tục. Thiên Chúa Giavê là Đấng Thánh, Thánh đến nỗi mà ai nhìn thấy cũng không thể sống (Xuất hành 33.20), nên Ngài chỉ hiện diện (vô hình) Nơi Cực thánh cho Thượng tế thay mặt dân đến tế lễ thôi. Ngay Thượng tế và thầy tế, cũng được tuyển từ dòng dõi dành riêng là Aaron, trong khi các Lêvi trợ tế cũng thuộc bộ lạc dành riêng cho tế tự là Lêvi.

Sự cách ly Tục-Thiêng ấy còn thể hiện rõ hơn nữa do ngôn ngữ dùng để chỉ giáo dân thường, và đó là tiếng Laos. Laikos. Tiếng Laos hay Đám giáo dân chỉ được dùng trong bản dịch LXX, tiếng Laikos (chỉ người giáo dân) xuất hiện trong những bản dịch muộn hơn. Thật ra Laikos ở đó thuộc giống trung hòa (genre neutre), dùng để chỉ những sự vật trần tục (hebêlos) đối nghịch với những sự vật thánh dùng trong tế tự (như trong Êdêkien 22.26; 1Vua 21.4).

Sự phân cách Thiêng-Tục còn được nối dài thêm trong Do Thái giáo bởi sự phân ly Sạch-Dơ, Sạch-dơ theo ý nghĩa tôn giáo ấy. Về người thì sạch, đó là Dân thánh (Israen), còn dơ là dân ngoại được gọi là goim, quê kệch. Về vật thì dơ, đó là một số động vật, chẳng những không được dùng để tế lễ, mà không được ăn luôn (như trong Công vụ tông đồ, 10.11-14)…Về người nữa, dơ là những phụ nữ mới sinh đẻ, người phong cùi…

*

Trong Kitô giáo, tiếng Laikos vẫn được dùng để chỉ giáo dân trong Cựu Ước, có khi với ý nghĩa xấu nữa, như trong câu nói sau đây của Clêmentê thành Alexandria (thế kỷ III) khi giải thích Xuất hành 27.16 :

- “…tấm màn (đền thờ Giêrusalem) giữ cho sự bất trung tín giáo dân (laikos) khỏi bén mảng tới.”

Trong Hội thánh La mã, tiếng Laikos được dịch sang La văn là Laicus, bắt đầu để chỉ sự vật phàm trần thôi, còn giáo dân được gọi là Plebeius, Plèbe hay Dân đen, đối lập với dân quý tộc (patriciens), rồi công dân (civis, thị dân (2) vào thời đế quốc. Gọi giáo dân là dân đen, phải chăng người ta đã coi họ là thấp kém rồi. Sau này khi thay tiếng Plebeius bằng Laicus, ngoài ý nghĩa thấp kém do tiếng Plebeius cũ, giáo dân còn nhiễm lây hương vị phàm tục của đồ vật thường phàm (profane), đối nghịch với đồ vật thánh dùng trong tế lễ nữa.

Riêng tại Việt Nam, ngay từ đầu người ta đã dùng tiếng Giáo dân để dịch Laicus, Laic, Laity. Có điều tiếng Dân trong Hán-việt cũng đối lập với Quan là người cai trị dân. Tiếng Dân tự nó đã nói lên địa vị thấp kém của giáo dân rồi. Càng thấp kém hơn khi dân được coi là Tiểu nhân đối lập với Đại nhân là các quan. Hơn thế, Tiểu nhân còn có nghĩa là hèn kém, xấu xa, đối nghịch với quân tử là người đức hạnh:

-“Quân tử hòa nhi bất đồng, tiểu nhân đồng nhi bất hòa.” (người quân tử khác nhau về tâm hồn, lối sống và nhân cách, nhưng ăn ở thuận hòa với nhau; kẻ tiểu nhân thì coi giống hệt như nhau, nhưng không thể hòa hợp với nhau).

Do đó theo tôi, nên thay tiếng Giáo dân bằng Giáo hữu (anh em trong tôn giáo) hay Tín hữu (anh em trong đức tin).

Thật ra, trong Hán-Việt đã có từ Tín đồ, Giáo chúng, nhưng dù Tín đồ, Giáo chúng, họ vẫn có địa vị quá thấp so với hàng sư trưởng, giáo chủ. Trong khi mà với Phép rửa (chính là Phép dìm, baptême) trong nước và Thánh Thần khí, giáo hữu đã thành con của Thiên Chúa, một địa vị cực cao, dù giáo sỹ cũng không thể cao hơn, như chính thánh giám mục Augustinô thú nhận: Chức danh Giám mục của ngài chỉ là một trách vụ và gánh nặng, trong khi về phẩm giá và ân sủng, ngài chẳng có gì hơn một tín hữu bình thường (3)

*

Trong Kitô giáo, với Ngôi Lời nhập thể, chịu chết và phục sinh, sự cách ly Thiêng- Tục đã bị phá tan khi bức màn che Nơi Cực Thánh đã tự xé toang rồi (Luc.23.45). Cùng lúc nơi dành riêng để thờ Đấng Thánh cũng được thay thế bằng Đền thờ Giêrusalem mới là chính Thân thể Chúa, cái thang duy nhất nối Trời với đất (Gio.2.19).

Với mầu nhiệm Nhập thể, Đấng Cực Thánh đã thành xác phàm, thì cái là tự nhiên đã mang mầm siêu nhiên, cái trần thế không còn là thế tục nữa. Đức Giêsu Kitô đã thành chiếc Thang Giacóp, nên Chúa vừa là Đền thờ, Bàn thờ, vừa là Con chiên tế phẩm và Thượng tế luôn. Bởi thế sau khi Chúa về Trời và Thánh Thần được sai đến, các môn đệ không cần đến Đền thờ Giêrusalem nữa, mà tụ họp bất cứ đâu để bẻ bánh (lễ Tạ ơn).

Dĩ nhiên là trong Lễ Tạ ơn, vẫn có tông đồ hay giám mục kế vị ngồi giữa thay mặt Chúa, với các kỳ mục (presbuteros, linh mục), rồi giáo dân vây quanh, nhưng không có cách biệt giữa chiên và mục tử. Cách bố trí sau này khi có nhà thờ cũng vậy, như dấu tích còn thấy trong một hai nhà thờ cổ nhất của Rôma: không có cung thánh ở tít tắp phía trên, mà chỉ có bàn thờ với giáo sỹ ở giữa, và giáo hữu vây quanh thôi.

Việc truyền giáo cũng thế, nó được coi là sứ mệnh của toàn Dân Thiên Chúa, của mọi môn đệ Chúa, chứ không phải của riêng nhóm XII. Mà nói đến môn đệ, thì họ rất đông: hễ tin theo Chúa là thành môn đệ Ngài rồi, và đó là hai môn đệ Emmau, là 72 môn đệ được sai đi trước Chúa để loan tin Nước Trời đã gần kề (Luc.10.1vt.), là 500 môn đệ được Chúa hiện ra với sau Phục sinh (1Cor.15.6)… Nên vào thời đầu Hội Thánh, ai có khả năng đều đi loan Tin Mừng, nào là Philipphê người được chọn để phục vụ bữa ăn cho những bà góa neo đơn (Công vụ 6.5; 8.5-8), nào là Apollo chỉ mới biết đến Phép rửa (dìm) của Gioan Tiền hô (Công vụ 18.24-28). Vâng, sứ mệnh truyền giáo là của chung Dân Chúa dưới sự lãnh đạo của các tông đồ, và giáo hữu đã ý thức ngay từ đầu như vậy. Do đó giáo hữu rất chủ động, chứ không thụ động như bây giờ. Ấy chỉ vì sau này Giáo hội ngày càng được cơ chế hóa, và ngày càng được đồng hóa với hàng giáo phẩm, khiến cho phẩm giá và vai trò giáo hữu lu mờ đi.

Vatican II với sự lột xác của Giáo dân

Khác với những Công đồng trước, Vatican II rất quan tâm đến giáo dân, và đề cao tư thế của giáo dân trong Dân Chúa, cũng như vai trò của giáo dân trong sứ mệnh (Mission) Dân Chúa (Peuple de Dieu) đối với thế giới. Ngay hiến chế quan trọng nhất là Lumen Gentium (Ánh sáng muôn dân) đã dành cả một chương (từ số 30 đến 38) để nói riêng về Giáo dân. Thêm vào đấy, một sắc lệnh (décret) được ban hành để nói về tông vụ (sứ vụ, apostolat) giáo dân: sắc lệnh Apostolicam Actuositatem.

Sở dĩ Vatican II quan tâm nhiều đến giáo dân, là vì đây là Công đồng mở ra với thế giới, chứ không chỉ tập trung vào những vấn đề nội bộ hay có mục đích tự vệ trước sức tấn công từ bên ngoài.

Quả thế, trước Vatican II, châu Âu gồm những quốc gia Kitô-chế (chrétientés), gần như đặt dưới sự giám hộ của Tòa thánh. Nhưng rồi sang thời Tân đại, các chính phủ bắt đầu thoát ly khỏi sự giám hộ ấy, trong khi mà tư tưởng cũng bất chấp quyền kiểm duyệt tôn giáo Index, và khoa học giải thích các hiện tượng tự nhiên bằng nguyên nhân tự nhiên, chứ không đếm xỉa đến những diễn giải về tạo thế trong sách Sáng thế ký nữa (4).

Thu mình lại trong thái độ tự vệ, Hội Thánh tách mình ra khỏi thế gian, coi những sự việc diễn ra trong xã hội là phàm tục (profane), đối nghịch với những gì thuộc Giáo hội được coi là thánh thiêng (sacred).

*

Được soi sáng và chuẩn bị từ mấy chục năm trước bởi những nhà thần học và chú giải Thánh Kinh tiên phong như Augustinus Bea, Yves Congar, Henri de Lubac, Karl Rahner,v.v…- có thể kể thêm nhà khoa học và tư tưởng Dòng Tên Teilhard de Chardin nữa-, Vatican II đã đảo ngược cách nhìn thế giới cùng với những thực tại phàm trần (profane) của nó. Các thực tại phàm trần, như chính trị và văn hóa, công nghệ và kinh tế… có vai trò và chức năng riêng trong xây dựng xã hội và hoàn thiện cuộc sống, nên chúng phải được tự lập, tự quản, miễn là đừng đi trật hướng cánh chung quan là xây dựng Trời mới Đất mới.

Thế mà trong Dân Thiên Chúa, chỉ giáo dân mới ngụp lặn giữa các thực tại trần thế ấy, nên vai trò của họ đối với việc thánh hiến (consacrer) những thực tại này là cực kỳ quan trọng và không thay thế được. Để hiểu vai trò ấy của giáo dân, cũng như thế đứng của họ trong Dân Thiên Chúa (Populus Dei), chúng ta phải nhìn tất cả trong ánh sáng của mầu nhiệm Nhập thể.

Mầu nhiệm Nhập thể với độ mở hoàn vũ (cosmic) của nó

Trước hết, không thể tách Thiên Chúa cứu thế ra khỏi Thiên Chúa tạo thế, vì Đấng giáng trần cứu độ cũng là Đấng đã sáng tạo vũ trụ này:

-“Ngôi Lời là Thiên Chúa… Nhờ Ngôi Lời mà vạn vật được tạo thành; và không Ngài thì đã chẳng có gì được tạo thành…

Ngôi Lời đã thành người (thành xác thịt) và cư ngụ giữa chúng ta… Ân sủng và sự thật thì bởi Đức Giêsu mà có…” (Tiền ngôn Phúc âm theo Gioan)

Vì Đấng cứu độ cũng là Đấng tạo thế, nên vạn vật và con người cùng với các thực tại trần thế cũng được cuốn theo cơn lốc đổi mới về hướng siêu (tự) nhiên, thánh thiêng.

 Để cải tạo cái tự nhiên thành siêu nhiên, thần thánh như thế, cần có sự hợp tác của Dân Thiên Chúa, hợp tác với hành động thánh hóa của Chúa Thánh Thần. Thế nhưng Mở Nước Trời, không thể chỉ mang Tin Mừng đến muôn dân và thánh hóa từng người, mà còn phải hiến thánh (consacrer) những thực tại trần thế, như hoạt động chính trị, nghệ thuật, kinh tế,v.v…

Một cái nhìn rất siêu nhiên và sâu xa về tất cả những gì là tự nhiên và trần thế ấy, chúng ta có thể tìm thấy nơi hai tập sách của Teilhard de Chardin, cuốn “Hiện tượng con người”, nhất là cuốn “Môi trường thần linh”.

Với nhà khoa học và tư tưởng lừng danh này, Lời thành người không chỉ đứng ở điểm cánh chung mà hút, khi mà sức hút ấy đã tác động ngay từ đầu vào Quantum (năng lượng) initial cùng với những hạt cơ bản, kế đó vào từng tế bào của sự sống… Sự thúc động từ điểm W-Kitô này sinh ra một tiến hóa liên tục bằng hội tụ và phức tạp hóa để làm nên các nguyên tử, phân tử, siêu đại phân tử protein…; và đây cũng là những bước nhảy vọt từ khoáng vật lên Sinh cầu (Biosphère), từ Sinh cầu lên Trí cầu (Noosphère). Bước tiến cuối này còn được Teilhard gọi là Ý thức hóa (Conscientisation), Người hóa (Homonisation).

Đến Con người rồi, sự tiến hóa vẫn còn tiếp tục trong Xã hội hóa, rồi Siêu bản vị hóa (Hyper-personnel) nơi Thiên Chúa thành người, nghĩa là được nâng cao vượt hẳn lên bởi mầu nhiệm Nhập thể. Đến đây thì tiến hóa không còn được giải thích bằng nguyên nhân tự nhiên nữa, mà phải được nhìn dưới ánh sáng đức tin. Cũng ở đây, mầu nhiệm Nhập thể được sáng thêm trong mầu nhiệm “Đây là Mình-Máu Thầy”, khi mà Máu-Thịt Chúa lây nhiễm sang mọi xác thịt người, lây nhiễm sang mọi tế bào sự sống, mọi phân tử khoáng chất, mọi thực tại thiên nhiên và xã hội, để tất cả được hoàn thiện và cuốn theo cơn lốc nó xuôi dòng vế phía Trời mới Đất mới (5).

*

Bởi thế, việc hiến thánh thế giới không dừng lại ở sự cứu độ của từng cá nhân, mà phải đưa tinh thần Phúc Âm vào để biến cải mọi hoạt động xã hội hóa và hoàn thiện cuộc sống trong các nỗ lực chính trị, văn hóa, khoa học, kinh tế,v.v… Và đây cốt yếu là phận vụ của giáo hữu, những người sống ngụp lặn trong những thực tại trần thế này. Nhất là khi loài người dễ sa ngã đang xa dần con đường của Chúa khi chạy theo bạc tiền và danh vọng, khoái lạc và tư kỷ, muốn thống trị lẫn nhau và ức hiếp kẻ hèn yếu, cô thế. Thậm chí khoa học còn muốn chế tạo con người và thay đổi giống người bằng kỹ thuật gen nữa.

Đứng trước những trật đường như thế, Giáo hội chỉ có tiếng nói cảnh báo yếu ớt khi thi hành chức năng ngôn sứ của mình. Cần phải có những thế lực giữa đời để giữa đời họ đương đầu với những thế lực tà độc nói trên. Thế lực chống bóng tối này, chỉ giáo hữu mới làm thành nổi. Vâng, sống giữa lòng xã hội, chỉ có họ, bằng gương tốt và tranh đấu, mới có thể bẻ lái cho con tàu nhân loại, mới có thể xây đắp công lý và một hòa bình theo ý Chúa. Có thế, sự cứu độ mới đủ tầm mức hoàn vũ, đúng như lời Thánh Phaolô nói trong 1Cor 3.22-23:

-“Tất cả thuộc về anh chị em, còn anh chị em thuộc về Chúa Kitô, và Chúa Kitô thuộc về Thiên Chúa”.

Trong cụ thể, giáo hữu hiến thánh thế giới bằng cách nào?

Hàng giáo phẩm không thể dấn sâu vào mọi ngóc ngách của đời sống gia đình và xã hội.

Giáo dân hành hương kinh Đức Mẹ La Vang
Công cuộc hiến thánh thế giới, để bội tăng sức mạnh, cần phải thực hiện một cách tập thể nhờ sự liên kết các giáo hữu và gia đình giáo hữu

Trước đây đã có những “linh mục thợ”, họ hóa mình với thợ thuyền trong lao động và đấu tranh chống lại sự bóc lột của các ông chủ. Gần đây lại xuất hiện những tu sỹ dấn thân, như đan sỹ Huynh đoàn Giêrusalem họ dành một thời gian mỗi ngày để đi làm nhân viên xí nghiệp, và các Tiểu đệ Tiểu muội Chúa Giêsu họ đến sống giữa những xóm nhà “ổ chuột” để gần gũi người nghèo. Có điều số linh mục và tu sỹ (6) ấy quá nhỏ, mà sự dấn thân của họ cũng rất giới hạn, bởi họ không có đời sống gia đình, lại không tham gia chính trường, thương trường, cũng như không thể làm một số nghề khác.

Quả thực, chỉ một mình giáo hữu, vừa sống ngụp lặn giữa các thực tại trần thế, vừa thuộc mọi tầng lớp và cơ cấu xã hội, có thể tham gia Sứ vụ (Mission) Hội thánh đối với “cõi tục” ấy. Vâng, giữa “cõi tục” ấy chỉ họ mới có thể làm “men trong bột”!

Có điều, để có thể “làm men trong bột” giữa đám bột xấu tốt lẫn lộn, họ phải sống “hòa nhi bất đồng” : hòa hợp với mọi người, nhưng không giống nhiều người. Có thế họ mới có thể thánh hiến (consacrer) thế giới và gom tất cả “về một Đầu” (recapitulare) nơi Đức Kitô.

Trước hết trong gia đình, vợ chồng phải sống gương mẫu, vừa chung thủy với nhau như Chúa yêu thương Hội Thánh là Thân mình Ngài (Epheso 5.25-32; Khải huyền 21.2,9). Giữa một thế giới hưởng lạc, trong đó gia đình dễ tan vỡ như ngày nay, thì những tổ ấm đúng danh nghĩa “tổ ấm” như thế sẽ tỏa sáng ra xung quanh, để nhìn vào đó, người ta sẽ nhận ra Đức Kitô quả là đấng được Thiên Chúa Cha sai đến (Gio.13.35; 17.21).

Yêu thương nhau, vợ chồng cũng yêu thương con cái, yêu vì Chúa và vì chúng chứ không phải chỉ vì mình như thường phàm. Do đó, họ sẵn sàng hy sinh cho con và giáo dục con thành những Kitô hữu tốt, như ông bà Martin đã được phong thánh (7). Sinh con và giáo dục con như thế, người ta sẽ làm bội tăng giữa thế giới số lượng “men trong bột” nói trên.

Gia đình tốt càng dễ tỏa sáng hơn khi họ sống thân thiện với láng giềng và hết lòng giúp đỡ người bệnh tật hay cùng túng. Bằng cách làm ‘muối” ướp cho đời và sống liên kết với xung quanh như thế, gia đình Công giáo sẽ tạo sinh những nghiệp đoàn và xóm làng gương mẫu, trong đó phát triển nhiều thuần phong mỹ tục, và đây là góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn hướng về sự hoàn thành Trời mới Đất mới ở cuối đường lịch sử.

Công cuộc hiến thánh thế giới, để bội tăng sức mạnh, cần phải thực hiện một cách tập thể nhờ sự liên kết các giáo hữu và gia đình giáo hữu trong các đoàn thể do Giáo hội lập sẵn hay do giáo hữu tự mình gây dựng nên với sự chấp thuận của hàng giáo phẩm.

Sau đây là một số hiệp hội sẵn có:

-Thiếu nhi (Nghĩa binh) Thánh Thể

-Hội Các bà mẹ Công giáo với bổn mạng là Thánh Monica, với lý tưởng là giáo dục tốt con cái, với việc tông đồ là chăm lo việc họ đạo và thăm viếng người già yếu…

-JOC (Jeunesse Ouvrìère Chétienne) hay Thanh lao công.

-JAC (Jeunesse Agricole Chrétienne) hay Thanh nông công.

-JEC (Jeunesse Etudiante Chrétienne) hay Thanh sinh công.

-CLC (Christian Life Community) hay Cộng đồng đời sống công giáo (đã từ Hiệp hội Thánh Mẫu mà được cải biến thành), theo linh đạo I nhã và được Dòng Tên hướng dẫn thiêng liêng.

-Đạo binh Đức Mẹ (Legio Mariae) với hoạt động tông đồ được tổ chức và kiểm soát chặt chẽ.

-Hoạt động nhiều trong môi trường chính trị có Opus Dei có giám chức tòng nhân (prélature personnelle)

-AA (Auxiliaires de l’Apostolat) hay Trợ tá tông đồ: sống đạo và làm tông đồ trong mọi hoàn cảnh, trực thuộc giám mục địa phận và nhận sứ vụ từ ngài. Các thành viên, hết thảy là nữ, sống ba lời khuyên Phúc âm và thuộc trọn về Chúa để phục vụ giáo hội địa phương.

-Phong trào Cursillo (Khóa học nhỏ, trong tiếng Tây Ban Nha) nhằm sống động hóa đức tin và đưa Tin Mừng đến cho xung quanh. Để được như vậy, thành viên được học hỏi và chia sẻ nhóm trong các cuộc họp và sống chung mấy ngày cuối tuần.

-Phong trào Focolare (theo tiếng Ý có nghĩa là Gian nhà có lò sưởi, nên ấm cúng) mở ra cho mọi thành phần Dân Chúa để họ sống ơn thánh hóa và ơn gọi tông đồ do Phép Rửa (dìm), nên trong đó có giáo hữu, linh mục, giám mục. Có điều tổng hội trưởng (président) phải là một nữ giáo hữu, và tổng hội phó là một linh mục. Hiện nay phong trào có mặt ở 182 nước với 2 triệu thành viên. Phong trào cũng đã có một Chân phước và nhiều người đang được xét phong Chân phước, trong đó có Hồng y Giám mục Nguyễn Văn Thuận.

-Phong trào Thánh Linh hay Ngũ Tuần (Pentrecostal) …

*

Để có thể làm “men trong bột” giữa những thực tại thế tục vàng thau lẫn lộn như thế, giáo hữu phải được huấn luyện vững về đức tin và đời sống thiêng liêng. Việc huấn luyện ấy chỉ có thể là công việc của linh mục và tu sỹ, những người đã trải qua nhiều năm tu đức và trau dồi thần học trong các chủng viện và nhà tập, học viện dòng (8).

Các giáo sỹ và tu sỹ này, trong khi giảng dạy cho giáo hữu và linh hướng cho họ, sẽ biết tôn trọng họ khi họ cũng là con Thiên Chúa như mình do ân sủng Phép Rửa (dìm), và được “sai đi” như mình do ấn tín phép Thêm sức. Vâng, hết thảy chúng ta được ơn gọi nên thánh như nhau và được sai đi như nhau. Khác nhau chỉ là ở chức năng và trách vụ, do đó cũng là ở đặc sủng (charisme) để hợp xây Thân mình Chúa cho đến viên mãn. Cố nhiên, giáo sỹ còn là mục tử, thay mặt Chúa để chăn chiên của Chúa, nên giáo hữu phải hết lòng kính trọng họ và tùng phục Chúa nơi những vị đại diện ấy. Nhưng nên nhớ, đứng trước Đấng Chủ chăn nhân lành là Đức Kitô, dù giám mục hay linh mục cũng là chiên luôn, như thánh Augustinô nhắc nhở.

Tôn trọng vai trò và đặc sủng của giáo hữu, giáo sỹ và tu sỹ sẽ không can thiệp sâu vào công việc tông đồ của họ, nhất là khi các công việc ấy thuộc địa hạt trần thế. Trái lại, hãy khích lệ họ dấn thân nhiều hơn, tự đảm đương lấy trách vụ của mình, nhờ đó họ mới dễ chủ động và có sáng kiến, chứ không chỉ biết cậy dựa vào giáo quyền.

Phải cố làm sao để họ năng nổ được như giáo hữu Hàn Quốc. Vào thời Matteo Ricci có mặt bên Trung Hoa, người dân Triều Tiên gặp được cuốn Thiên chủ thực nghĩa của nhà thừa sai này, đã mang về giảng đạo trước, rồi mới đón các linh mục ngoại quốc đến sau. Ngày nay, sẵn truyền thồng chủ động như thế, giáo hữu Hàn Quốc vẫn tiếp tục hăng say truyền giáo, quản trị xứ đạo, dạy giáo lý cho trẻ em, cho tân tòng, khiến cho cha sở chỉ cần làm các bí tích và giám sát từ xa, và do đó không cần đông linh mục.



 [1].  Chưa hết, khu Israen chỉ dành cho đàn ông thôi, phụ nữ phải ở sâu phía dưới.

[2].  Nên Plèbe chỉ hơn có nô lệ được mua bán như đồ vật.

[3].  Xem thêm Hoành sơn, Tín lý tinh yếu, tr.482-487).

[4].  Sáng thế ký chỉ có ý nói tạo thế là việc của Thiên Chúa, chứ không nhắm diễn giải về cách tạo thế.

[5].  Xem thêm Hoành sơn, Teilhard de Chardin hay Khoa học với Đức tin, CGvDT nguyệt san, số tháng 11/2013.

[6].  Từ lâu nay trong cụ thể, tu sỹ đã được đặt bên giáo sỹ, tách khỏi giáo hữu thuần túy.

[7].  Ông bà đã nuôi dạy cả năm con gái thành nữ tu, trong đó có Thánh Têrêsa Hài đồng.

[8].  Ngày nay, đã có ít nhiều giáo hữu tốt nghiệp thần học ở các đại học Công giáo, hay tiến sâu vào con đường nên thánh, nên họ cũng có thể mở các lớp thần học giáo dân hay hướng dẫn người khác về mặt thiêng liêng.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Catholic
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây