Đăng ký nhận tin từ Báo Công Giáo

Xin nhập địa chỉ Email để nhận tin mới nhất

Khóa 1 Ðại chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn

Thứ hai - 10/07/2017 20:48

Khóa 1 Ðại chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn

Khóa 1 Ðại chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn
25 NĂM “THẤM ĐẪM MÙI CHIÊN” Ngày 27.6 vừa qua là kỷ niệm 25 năm Khóa 1 của Đại Chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn được thụ phong linh mục. 8 trong số 37 vị được lãnh sứ vụ mục tử ngày ấy đã cùng Công giáo và Dân tộc nhìn lại chặng đường mục vụ ¼ thế kỷ nhiều thách thức nhưng cũng tràn đầy hồng ân.

Bươn chải và tu học

Khóa 1 là khóa đào tạo chính thức đầu tiên kể từ sau năm 1975 của Đại Chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn (ĐCV), cũng có thể xem là khóa sớm nhất sau ngày đất nước thống nhất của cả nước. Trong giai đoạn nhiều sự đổi thay, việc tu học bị gián đoạn và hầu hết các chủng sinh có khoảng thời gian dãi nắng dầm sương với cuộc đời trước khi trở lại chủng viện. Khoảng lặng để “ra với đời” vừa là sự thử thách trong hành trình tuân theo ơn gọi, vừa là vốn quý để các ngài làm mục vụ về sau.

Linh mục Phanxicô Xaviê Bảo Lộc, Đặc trách Đối thoại Liên tôn TGP Sài Gòn - TP.HCM:

baoconggiao.info

Sau năm 1978, khi Chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn đóng cửa, như bao chủng sinh khác, tôi phải bươn chải với nhiều ngành nghề : làm mây tre lá ở Tổ lá Bạch Đằng, Hợp tác xã mành trúc Đồng Tâm; tham gia lao động ở nông trường Phạm Văn Cội II; phụ trách lớp học Tình thương Tân Định... Nhưng cũng nhờ khoảng thời gian này, tôi có thêm kinh nghiệm đối nhân xử thế cũng như cách nhìn nhận của đời dưới nhiều chiều kích, để vẫn cảm thấy hạnh phúc trong lựa chọn của mình và luôn tin tưởng rằng, cuộc đời thế nào đều do chính Chúa sắp đặt.

Linh mục Phaolô Dương Công Hồ, Chánh xứ Thánh Tâm - Lộc Tiến, GP Đà Lạt:

Mười một tuổi tôi bắt đầu bước chân vào Tiểu Chủng viện, đến nay đã tròn 50 năm bước theo ơn gọi. Một đoạn đường dài nhìn lại mới thấy tình yêu Thiên Chúa thật nhiệm mầu. Như đứa con thơ chập chững từng bước bước tới, bàn tay Thiên Chúa khi nắm, khi buông dìu tôi đi vào sứ vụ huyền siêu.

Với hơn 300 thí sinh đầu vào, may mắn được chọn là một trong số 54 anh em vào lớp sáu. Cuối cùng cả lớp làm linh mục chỉ có 2 anh em. Đã có lúc, con đường phía trước tăm tối và mù mịt chẳng khác chi Tổ phụ Abraham “Đi mà chẳng biết mình đi đâu !”. Mọi cánh cửa đều từng bị đóng lại, nhưng dù các cửa đóng kín, Thần Khí của Đức Kitô Phục Sinh vinh hiển vẫn vượt qua và có mặt để thổi hơi, ban bình an.

Linh mục Vinhsơn Nguyễn Văn Hồng, Chánh xứ Tân Hưng - Hóc Môn :

Năm 1975, học xong lớp 12, tôi bắt đầu đăng ký học hai lớp dự tu và hai lớp trước chủng viện 13, 14. Thời điểm đó, lao động là chính, học là phụ. Kéo dài từ năm 1975-1982, tôi từ nhà lên Sài Gòn học 4 tháng rồi lại trở về đi làm 8 tháng. May mà khi đó đi học 4 tháng còn được ở nội trú trong chủng viện không phải đi đi về về. Để có gạo ăn và đóng học phí, tôi phải đi làm vỏ xe đạp, đan lá buông làm nón. Sau năm 1982 thì tạm ngưng. Đến năm 1986 bước sang một giai đoạn mới, khóa đầu tiên của ĐCV mở lại, chỉ có người mới được đăng ký học. Hai năm sau mới cho bổ sung khóa cũ vô học lại. Lúc này thì học 9 tháng, nghỉ hè 3 tháng.

Trong một lớp có nhiều độ tuổi khác nhau, thậm chí lệch nhau 12-13 tuổi, nhưng không có trở ngại gì, chúng tôi hòa đồng và nương nhau sống. Vì khó khăn quá rồi, khổ quá rồi, bất chấp mọi chuyện, sống chan hòa với nhau, chúng tôi được ĐCV đánh giá là lớp có tinh thần học tập, đoàn kết tốt nhất từ trước đến nay. Gặp khó khăn mới thấy ơn gọi quý như thế nào để mà kiên trì. Nếu như không có sự nâng đỡ của Chúa, của bề trên, mọi người buông xuôi hết thì sẽ không còn ai kế thừa.

Linh mục Giuse Phạm Đức Tuấn, Chánh xứ Hạnh Thông Tây - Gò Vấp :

Năm 1970, 12 tuổi, tôi được một người dì dẫn vào dòng Donbosco học, đồng thời tìm hiểu ơn gọi. Tôi ở đây từ lớp 7 đến lớp 12. Sau năm 1975, tôi tiếp tục tu học. Hai năm sau, tôi học đại học Sư phạm kỹ thuật Thủ Đức, đến năm 1979 thì đi lao động ở nông trường Phạm Văn Cội (Củ Chi) một năm. Năm 1980, tôi vô ĐCV, một năm chỉ học 4 tháng, thời gian còn lại đi lao động. Cuộc sống khó khăn, mọi thứ đều phải mua chắt góp từng chút một, tuy nhiên chủng viện không bao giờ cho ăn độn. Có bao nhiêu gạo thì nấu bấy nhiêu, còn khoai luộc để riêng, ai ăn thêm thì tự lấy. Có một thời gian, việc tu học bị gián đoạn, chúng tôi tự học bằng cách đi giúp xứ, đi học thêm bên ngoài. ĐCV luôn tạo điều kiện, mỗi tháng chúng tôi lên gặp cha linh hướng, vẫn được giữ gìn, vẫn được hướng dẫn. Tuy nhiên, mỗi người phải tự sống, tự chọn lựa vì lúc đó chả ai đi tu cả. Năm 1986, ĐCV mở lại khóa chính thức, vừa có người cũ vừa có người mới. Lễ khai giảng có đến mười mấy Đức Giám mục tham dự. Khóa 1 có 37 thầy phó tế của 4 địa phận : Sài Gòn, Phú Cường, Đà Lạt, Mỹ Tho.

Linh mục Giuse M. Phạm Hồng Thái, Chánh xứ Hàng Sanh - Q. Bình Thạnh :

Tôi vào chủng viện năm 1976, khi đã 20 tuổi, học lớp trưởng thành, mỗi tuần lên chủng viện một lần, vài tháng đi tĩnh tâm một đợt. Năm 1978, tôi đi nông trường Lô 6 Củ Chi của Ủy Ban Đoàn Kết và năm sau đó thì học triết học. Từ năm 1980-1984 tôi đi bộ đội. Năm 1985, ĐCV chiêu sinh trở lại và khóa 1 khai giảng 1 năm sau, nhưng đến năm 1989 tôi mới nhập học. Để duy trì ơn gọi trong những năm ấy, tôi vừa học, vừa đi làm, vừa cầu nguyện.

Linh mục Phanxicô Xaviê Lê Văn Thái, Chánh xứ Phú Hữu, hạt Thủ Thiêm :

Ơn gọi đến với tôi từ năm mới 11 tuổi. Lúc đó tôi chỉ là một cậu bé giúp lễ, năng sinh hoạt trong phong trào Thiếu nhi Thánh thể ở giáo xứ Hàng Sanh (Sài Gòn). Còn nhớ, tôi rất thích đọc những tập sách có tranh, ảnh về Chúa Cứu Thế. Trong khi say mê vào từng con chữ, từng bức ảnh từ các tập sách, tôi cảm thấy tâm hồn lay động nhiều và ý muốn dâng mình cho Chúa dần ươm mầm trong lòng tôi. Năm 12 tuổi, tôi vào Tiểu chủng viện Sài Gòn, bắt đầu hành trình ơn gọi.

Khi chủng viện đóng cửa, tôi có chút hoang mang vì thấy tương lai phía trước bỗng đen tối. Những năm sau đó, tôi chỉ biết chờ đợi và cầu nguyện, để Chúa gìn giữ, truyền thêm sức mạnh, ý chí cho mình. Tôi tiếp tục giúp giáo xứ trong các công việc như trao Mình Thánh, dạy giáo lý, tập hát ca đoàn. Có chút vốn liếng về ngoại ngữ, âm nhạc, tôi nhận dạy kèm cho các em nhỏ để kiếm thêm tiền phụ giúp gia đình. Khoảng thời gian đó, có một kỷ niệm với cố linh mục Trần Lê Vinh, chánh xứ Hàng Sanh thời bấy giờ làm tôi nhớ mãi không quên. Trước hoàn cảnh khó khăn như vậy, một hôm ngài đã thân tình khuyên tôi : “Con nên tham gia lao động ngoài đời để rộng cửa tu học về sau, chứ giờ cứ thế này đâu được...”. Vâng lời ngài, tôi xin làm công nhân cho một xí nghiệp. Cứ thế, tiếp tục chờ đợi và nguyện cầu. Đến năm 1986, khi chủng viện mở lại, tôi quay về và học lại từ đầu.

Linh mục Phêrô Phạm Văn Long, Chánh xứ Bình Xuyên - hạt Bình An :

Quê nhà tôi trước đây ở Mỹ Tho. Những năm đầu đời, là một cậu bé lễ sinh, sinh hoạt nơi xứ đạo Long Định (giáo phận Mỹ Tho) có lẽ đã tạo cho tôi sự gắn bó sâu sắc với nhà Chúa, đồng thời nuôi dưỡng ơn gọi trong tôi. Nói một cách sâu xa là thế nhưng đơn giản hơn, tôi đi tu chỉ là bởi niềm yêu thích cuộc đời tận hiến và ao ước trở thành linh mục. Trong đức tin, mong muốn ấy đã là một cái ơn nên tôi nghĩ chính Chúa đã ban ơn này cho tôi để tôi có thể vượt qua nghịch cảnh mà bền bỉ với ơn gọi của mình.

Năm 12 tuổi (năm 1969), tôi vào Tiểu chủng viện Cần Thơ. Trước đó, cha sở giáo xứ Long Định là cha Phêrô Trần Đức Dậu đã chọn ra mấy em, trong đó có tôi đi thi tuyển. Ai thi đậu thì về chuẩn bị đi tu. Sau khi Chủng viện đóng cửa, gia đình tôi chuyển từ Mỹ Tho lên Thủ Đức. Tôi tiếp tục hoàn thành chương trình học văn hóa. Lúc bấy giờ ở giáo xứ Minh Đức (Sài Gòn) có cả một làng làm nghề chiếu cói. Tại đây người ta cũng mở một hợp tác xã làm chiếu. Tôi tham gia vào hợp tác xã này, kiên trì lao động và chờ đợi. Những ngày tháng đó, trong tôi chỉ có hai chữ  “phó thác”. Tôi luôn nghĩ, ơn này Chúa đã ban cho tôi nên Ngài bảo tôi đi tiếp tôi sẽ đi tiếp, nếu Ngài bảo tôi dừng tôi sẽ dừng. Tôi chỉ cần phó thác và lắng nghe lời Ngài.

Linh mục Phêrô Nguyễn Văn Võ, Chánh xứ Chúa Hiển Linh, Q.6 :

Sinh ra và lớn lên tại giáo xứ Vườn Xoài, Sài Gòn, tôi nhớ từ nhỏ bản thân đã ước ao dâng mình cho Chúa. Khao khát này càng được hun đúc khi bố mẹ cũng muốn tôi đi tu và chính các vị là tấm gương về lòng mến, cùng sự hy sinh, nhiệt thành. Năm 1969, tôi vào Tiểu chủng viện khi mới 11 tuổi.

Trong giai đoạn chủng viện đóng cửa, về lại nhà, bản thân nhiều lúc cũng không tránh khỏi những nghĩ suy, tác động. Tuy nhiên, tôi luôn thầm tạ ơn Chúa vì trong quãng thời gian khó khăn đó, lòng mến vẫn luôn kiên trì. Tới ngày được đi học lại thì khỏi nói, đó là một niềm vui khôn tả, bởi biết rằng ước mơ của bản thân từ tấm bé, cùng những khao khát, chờ mong bấy lâu nay sắp có điều kiện triển nở. Trong suốt quá trình học có nhiều kỷ niệm khiến tôi nhớ mãi, nhưng ấn tượng nhất là bạn học cùng lớp nhiều người lại kêu nhau bằng “bố”. Bởi vì là khóa đầu tiên, quy tụ nhiều thế hệ nên trong lớp có người cách nhau cả trên chục tuổi. Tu học trong điều kiện còn khó khăn thiếu thốn nhưng mọi người sống vui vẻ, giúp nhau trong cuộc sống cũng như chuyện học hành.

Ngày thụ phong

Vượt qua biết bao trở ngại, thậm chí những ngày cuối trước “giờ G” mà không biết mình có được bước lên Bàn Thánh hay không, lễ thụ phong linh mục là những giờ phút “vỡ òa” trong tâm khảm của các thầy phó tế khóa 1 Đại Chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn…

Linh mục Vinh sơn Nguyễn Văn Hồng :

Một ngày không thể nào quên, vỡ òa trong niềm hạnh phúc, ngẫm lại mới thấy đó là hồng ân của Chúa. Ơn Chúa ban chứ sức mình không thể kiên trì được như vậy. Giáo hội, bề trên cũng luôn đồng hành, tạo mọi điều kiện để mình bền chí, không thất vọng, không ngã lòng, nhờ vậy mới có được như ngày hôm nay.

Linh mục Giuse Phạm Đức Tuấn :

Ở địa phận Sài Gòn, buổi tối trước ngày phong chức mới nhận giấy báo, vậy nên không ai biết trước mình sẽ được thụ phong. Tuy nhiên, trong bầu khí vui vẻ, mọi người vẫn chuẩn bị, vẫn hy vọng. Nhìn lại suốt một thời kỳ dài nhiều biến động như thế mà cuối cùng vẫn vượt qua được thì chỉ có Chúa mới làm được.

Linh mục Phanxicô Xaviê Lê Văn Thái:

Khi chương trình học kết thúc, tôi cứ mang tâm trạng hồi hộp. Câu hỏi “mình có được thụ phong không?” và “được thụ phong khi nào ?” cứ phập phồng mãi trong lòng. Rốt cuộc đến năm 1992, tôi cũng được lãnh nhận tác vụ linh mục. Trong ngày thụ phong, biết cao cảm xúc, biết bao sướng vui. Tôi mừng bởi vì Chúa đã thương chọn tôi làm linh mục trong hoàn cảnh khó khăn, nhiều thử thách.

Linh mục Phêrô Nguyễn Văn Võ :

Những ngày chuẩn bị cho lễ chịu chức gần kề thì có hai cảm xúc song hành trong mỗi anh em chúng tôi là mừng vui và lo lắng. “Vui không ngủ được” như người ta vẫn thường hay nói, còn lo lắng là vì trước đó chủng sinh ở các địa phận khác đã có quyết định, riêng ở Sài Gòn vẫn chưa. Hôm lễ tôi đã 34 tuổi nhưng đối với lớp vẫn thuộc dạng trung bình vì nhiều thầy đã trên dưới 40. Và có lẽ do anh em khi đó còn “thiếu kinh nghiệm” về lễ thụ phong nên thánh lễ ngoài sự sốt sắng trong tâm hồn thì việc chuẩn bị của mỗi người cũng rất đơn sơ.

25 năm sứ vụ tông đồgiữa gia đình lớn

Trở thành mục tử trong một giai đoạn đặc biệt với nhiều hoàn cảnh đan xen, các ngài tuy mỗi người một nhiệm vụ, nhưng dù làm gì, ở đâu, họ cũng miệt mài loan báo Tin Mừng và chăm sóc cho đàn chiên của mình trong sự đỡ nâng của Thiên Chúa.

Linh mục Phanxicô Xaviê Bảo Lộc :

Suốt 25 năm linh mục, tôi di chuyển liên tục, đi coi xứ, sang Pháp du học, sau đó về giảng dạy tại Đại Chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn, đồng thời là Giám học Học viện Mục vụ TGP.TPHCM, đặc trách Ban đối thoại Liên tôn của TGP. Chính sự dịch chuyển làm cho mình thường xuyên ở tâm thế động. Và trong thế động đó, mỗi lần đi sẽ song hành với niềm vui vì tiếp cận cái mới : con người mới và môi trường mới. Sự mới mẻ đó làm tan đi cái mệt do những biến động của việc thay đổi.

Giờ đây, khi nhìn lại 25 năm linh mục, nguồn nâng đỡ, động viên, và trở thành sức mạnh trong đời sống phục vụ của tôi chính là tình cảm của anh chị em giáo dân. Sau ngày thụ phong linh mục, về dâng thánh lễ tạ ơn tại giáo xứ Tân Định, cha mẹ tôi vắng mặt, trong khi hầu hết anh em đồng khóa đều có phụ mẫu ở bên mình. Cuối lễ, tôi đã chia sẻ với cộng đoàn : “Kể từ ngày con trở nên linh mục, con không chỉ là phần tử của một mái ấm gia đình nhỏ bé, gồm có bố mẹ và anh em con. Ngày đó con thuộc về một đại gia đình rộng lớn hơn. Chính quý vị ở đây là ông bà, cha mẹ, cô bác và anh chị em của con”. Do đó, điều thử thách nhất cũng đồng thời là niềm vui lớn nhất là mình được hòa nhập vào một gia đình lớn và được nâng đỡ bởi chính cộng đoàn.
 

Linh mục Phaolô Dương Công Hồ :

Giờ đã 61 tuổi, vẫn thấy mình chẳng là gì và thật bé nhỏ trước sự dẫn dắt đầy yêu thương và nhiệm mầu của Chúa. Những ngày kỷ niệm ngân khánh vừa qua, tôi đã một mình đến nơi thật xa, không một người quen và chẳng ai thân thích, để cảm nhận một cách thấm thía và sâu sắc : “Ngài đã yêu con và mãi yêu con !”. Con chỉ biết đáp trả mỗi ngày để yêu như Ngài đã yêu.

Hơn 24 năm phục vụ trong cánh đồng truyền giáo ở vùng sâu, vùng xa, như là những vùng “ngoại biên”,  tôi thật sự vui và hạnh phúc vì mình đã ám sâu mùi của chiên. Mùi của nắng cháy và bồ hóng, mùi của bùn lầy và cả những tanh tưởi của những đoàn chiên chỉ biết sống hôm nay mà chẳng màng đến ngày mai. Cố gắng để trở nên mọi sự cho mọi người, nhưng vẫn không quên kho tàng của Thiên Chúa đang ẩn dấu nơi bình sành dễ vỡ của bản thân mình. Có những xây xát và thương tích nơi mình, nhưng nó diễn tả được một cách trung thực hình ảnh của “một Giáo hội như là bệnh viện dã chiến”. Những thông điệp của “Niềm vui Tin mừng” giúp tôi tự tin hơn để dấn thân : “Tôi thích một Giáo Hội bị bầm dập, bị thương tích và dơ bẩn vì đã ở ngoài đường, hơn là một Giáo Hội yếu nhược vì tự giam mình và bám víu vào sự an toàn riêng của mình. Tôi không muốn một Giáo Hội quan tâm đến việc được ở vị thế trung tâm và rồi rốt cuộc bị vướng mắc vào một mạng lưới của những nỗi ám ảnh và thủ tục” (EG 49). Tôi sống mà không cần hộ khẩu vì đã ở ngoài đường nhiều hơn ở trong nhà. Một ông Tây đã gọi tôi là “un prêtre poussiéreux”, một linh mục bụi đời.

Linh mục Vinhsơn Nguyễn Văn Hồng :

Sau ngày thụ phong, tôi về làm phụ tá giáo xứ Bùi Môn, chăm lo sinh hoạt thiếu nhi. Hoàn cảnh tuy còn khó khăn nhưng cũng có nhiều cái lợi, đặc biệt sinh hoạt đoàn thể thiếu nhi rất sôi nổi. Thời kỳ đầu sau đổi mới, đời sống đạo của bà con giáo dân vô cùng sốt sắng. Họ rất háo hức trong việc nhà Chúa. Bây giờ thì khác, trong sự dễ dãi lại có nhiều khó khăn, đặc biệt là cái khó xuất phát từ chính mình. Thiếu nhi không năng nổ  như ngày xưa, hướng đến cuộc sống xã hội nhiều hơn, dành nhiều thời gian học thêm bên ngoài, không thật sự thiết tha với việc nhà đạo. Nhưng càng khó khăn thì mình càng có động lực để vượt qua. Làm việc tông đồ là như thế, đừng than vãn mà hãy cố gắng. Khó chỗ nào mình cố gỡ chỗ đó. Đôi khi cái khó bên ngoài còn dễ vượt qua hơn cái khó từ nội tâm, từ con người mình.

Khi về giáo xứ Tân Hưng làm chánh xứ, thao thức của tôi là chăm lo đời sống đạo, xây dựng đoàn thể trong đó có người lớn, có giới trẻ, có thiếu nhi. Nhất thiết, một giáo xứ phải có đoàn thể, mà đoàn thể là những phụ huynh, những người đồng hành, làm điểm tựa, hậu thuẫn cho thiếu nhi, giới trẻ là thế hệ kế thừa và tiếp nối.

Linh mục Giuse Phạm Đức Tuấn :

Ngày tôi mới được thụ phong, địa phận lúc bấy giờ thiếu linh mục nên có thể nói công việc rất nhiều, mình phải cố gắng làm. Cũng gặp phải một số khó khăn nhất định do hoàn cảnh xã hội lúc đó. Tôi đã trải qua các giáo xứ Bùi Phát (Q.3), Phú Thọ Hòa (Tân Phú), Thái Bình, Hạnh Thông Tây (Gò Vấp). Dù mục vụ ở đâu cũng đều lấy sứ mạng chung của Giáo hội là lo cho đoàn chiên, tùy từng đối tượng như người lớn, thiếu nhi, thanh niên, người ta cần gì thì mình đáp ứng. Quan trọng là sống hòa đồng với đoàn chiên và làm thăng tiến đời sống đạo đức.

Linh mục Giuse M. Phạm Hồng Thái :

Chúa gọi làm linh mục là để sinh hoa trái. Vậy nên tôi chú trọng xây dựng đền thờ tâm hồn hơn đền thờ vật chất. Mong cho mọi người sống đạo sốt sắng hơn, yêu thương nhau hơn, bớt phạm tội, đi tu nhiều hơn. Cách sống của mình mở ra cho người ta thấy mình yêu thương, mình gần gũi, mình thân thiện, đừng có xa cách, hãy bình dân, “ngửi” được mùi của giáo dân, mùi buồn phiền lo lắng, căng thẳng, mắc mứu trong đời sống gia đình. Càng tiếp cận, càng gần, càng nghe thì sẽ hiểu được để đồng cảm và chia sẻ.

Linh mục Phanxicô Xaviê Lê Văn Thái :

25 năm trong vai trò của một người chủ chiên đã cho tôi nhiều cảm nghiệm. Trước hết là về tình thương của Chúa. Suốt quãng đường dài như vậy, đời linh mục không phải lúc nào cũng suôn sẻ. Chính những lúc buồn, tôi luôn thấy mình có Chúa bên cạnh, tôi tin tưởng vào Ngài và rồi mọi thứ đều qua hết. Cảm nghiệm thứ hai chính là sự nâng đỡ của giáo dân. Họ chính là nguồn vui của linh mục. Khi tôi sinh hoạt trong giáo phận, giáo xứ, họ an ủi, vực dậy tinh thần tôi rất nhiều qua những lần thăm viếng, trò chuyện và cộng tác trong công việc. Sống với đàn chiên của mình, tôi như sống trong một gia đình lớn đầy tình yêu thương. Điều cuối cùng mà tôi cảm nghiệm trong suốt chặng đường linh mục vừa qua chính là sự kết hợp mật thiết với Chúa. Khi vui cũng như khi buồn tôi đều chia sẻ và được Ngài đồng hành hỗ trợ. Từ tâm tình đó, tôi học cách cầu nguyện và phó thác.

Linh mục Phêrô Phạm Văn Long :

Tôi đã có sự đồng hành của Chúa, có nguồn động viên to lớn từ gia đình thì mới bền bỉ tới ngày nay. Ở mỗi giáo xứ từng phục vụ, tôi đều quan tâm đầu tiên đến yếu tố con người. Trong mỗi năm, ngoài việc đi theo đường hướng chung của Giáo hội, tôi cũng xem ở từng địa phương có nhu cầu gì thì sẽ hỗ trợ họ tùy theo thực tế nơi ấy. 25 năm linh mục, gắn bó với 4 giáo xứ, tôi luôn tâm niệm lấy phục vụ làm niềm vui và trông cậy vào tình yêu thương của Thiên Chúa.

Linh mục Phêrô Nguyễn Văn Võ :

Sau khi thụ phong, tôi được cử đi du học. Năm 2000 tôi về lại Việt Nam và giảng dạy môn Kinh Thánh tại Đại Chủng viện. Lúc này dù luôn phải bận bịu, lo nghĩ cho việc giảng dạy nhưng đổi lại, mỗi khi thấy thành quả của mình thành hình là những khóa ra trường, các thầy được chịu chức…, bao nhiêu muộn phiền đều tan biến. Cách đây 3 năm, tôi nhận bài sai về coi sóc giáo xứ Chúa Hiển Linh ở quận 6. Đây là một giáo xứ nằm ở vùng ngoại thành với nhiều thiếu thốn nên bước khởi đầu khiến tôi gặp đôi chút bỡ ngỡ, nhưng tôi luôn xác định, điều đó là thuận lợi để mình khởi sự, thực hiện nhiệm vụ mới từ những bước đi ban đầu.

Nguồn tin: Công Giáo và Dân Tộc:

Tổng số điểm của bài viết là: 3 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 3 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Tin xem nhiều
Kết nối
Catholic News
a
a
Báo Công Giáo TV - Tin Tức Mới Nhất Giáo Hội Công Giáo
Tp Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh, Việt Nam 700000 VN
Phone: 1-888-573-9922 Website: https://baoconggiao.info
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây